nhathongnguyen

Không có gì xa lạ đối với con người

Thứ Ba 26 2019

Nữ Thám Tử Nancy Drew Chương 4: Vật Gia Truyền Bị Đánh Cắp



Chương 4: Vật Gia Truyền Bị Đánh Cắp


Nữ Thám Tử Nancy Drew - Không Dấu Vết
Tác giả: Carolyn Keene
Thể loại: Trinh Thám
Biên tập: Nguyen Thanh Binh
Upload bìa: Nguyen Thanh Binh
Số chương: 13
Phí download: 3 gạo
Nhóm đọc/download: 0 / 1
Số lần đọc/download: 861 / 8
Cập nhật: 2016-06-27 09:56:58 +0700
Link download: epubePub   KindleMobi/PRC   PDF A4A4   PDF A5A5   PDF A6A6   - xem thông tin ebook





Chương 4: Vật Gia Truyền Bị Đánh Cắp
N
ăm phút sau tôi đã lại đứng ở hiên nhà chị Simone, nhấn chuông cửa. Chị đi ra, mặt đỏ bừng, cau mày.
“Ồ! Em hả,” chị nói, nét cau có đã giãn ra một chút. “Vào đi, Nancy. Chị cứ tưởng là cảnh sát chứ. Chị gọi cho họ ngay trước khi gọi em mà.”
“Chắc là họ sẽ đến ngay thôi,” tôi tế nhị nói. Bây giờ nói sự thật thì có ích gì, rằng cảnh sát trưởng McGinnis của sở cảnh sát River Heights không phải lúc nào cũng vội vã đến ngay đâu, trừ phi vụ án đó có thể cho ông ấy một cái tít giật gân trên tờ Chicago. “Trong khi chờ đợi, chị có muốn kể em nghe chuyện gì đã xảy ra không?”
“Dĩ nhiên rồi.” Simone ra hiệu cho tôi vào trong nhà. “Vào đây, chị sẽ giới thiệu em với các bạn của Pierre. Bọn nó có thể giải thích tất cả giùm chị.”
Tôi theo chị vào phòng khách. Nơi này trông chẳng giống hiện trường một vụ án cho lắm. Tôi không thấy có gì xáo trộn so với vài giờ trước cả.
Tất nhiên, trừ một thứ. Khung thủy tinh đựng quả trứng Faberge đặt trên bệ lò sưởi đã bị mở tung, bên trong trống rỗng.
“Chị không dọn dẹp gì sau khi phát hiện quả trứng biến mất chứ?” tôi hỏi.
Simone lắc đầu. “Bọn chị chưa đụng vào bất cứ thứ gì hết,” chị nói. “Hình như quả trứng là thứ duy nhất thu hút tên trộm, em ạ. Chứ ngoài ra thì chẳng còn gì khác trong phòng này có vẻ đã bị sờ đến cả.”
“Thú vị thật,” tôi nói.
Vừa lúc đó chợt có tiếng nói từ phía nhà bếp đi đến. Pierre bước vào phòng, theo sau là ba thanh niên khác.
“Nancy!” Pierre kêu lên ngay khi vừa thấy tôi. “Thật mừng là bạn ở đây. Cho phép tôi giới thiệu: đây là Jacques, Thèo, và René.”
Pierre lần lượt chỉ vào từng người một. Jacques cao và mảnh khảnh, mái tóc nâu nhạt với một khuôn mặt khá thu hút hơi có nét trầm tư. Thèo thấp hơn, tóc đen, vai rộng. René thì có đôi mắt xanh long lanh, tóc cũng đen như Thèo nhưng xoăn xoăn.
“Rất vui được gặp các bạn,” tôi nói trong khi các chàng trai lịch sự chào mình. “Chào mừng các bạn đến với River Heights. Thật tiếc là các bạn lại đến phải lúc không may như thế này.”
“Thật ra, bọn nó đã đến được một lúc trước khi xảy ra chuyện đấy chứ,” Simone nói. “Các em vừa rời khỏi vài phút là bọn nó đến nơi.”
“Đúng vậy, và chúng tôi cảm thấy thật kinh khủng, chúng tôi nghĩ mình cũng phải chịu một phần trách nhiệm trong chuyện này,” Jacques sốt sắng nói bằng tiếng Anh, giọng hơi nhẹ.
“Sao lại thế?” tôi hỏi.
Thèo nhún vai. “Vì chúng tôi quên khóa cửa.” Giọng cậu này nghe nặng hơn, nhưng lời nói và cử chỉ cũng đầy lo âu như Jacques. “Pierre cậu ấy muốn dẫn chúng tôi đi xem thị trấn. Tất cả chúng tôi đều quá háo hức, thế nên chẳng kịp cất hành lý lẫn khóa cửa nẻo lại cho đàng hoàng.”
“Ừ, là lỗi của tôi,” Pierre thở dài. “Cô Simone lúc nào cũng nhắc tôi phải khóa cửa. Có thể đây chỉ là một thị trấn nhỏ, nhưng kẻ xấu thì có chừa chỗ nào đâu. Nhưng tôi chỉ là... không thể nhớ là phải khóa cửa lại. Thị trấn này - sau Paris, trông quá... quá tốt.”
Tôi thở dài. “Tin tôi đi, ngay tại River Heights nhỏ bé ngái ngủ này, chúng tôi cũng có những tên tội phạm như bất kỳ nơi nào.” Thật ra, đôi khi còn nhiều nữa là khác, nhưng tôi không muốn cố giải thích làm gì. Simone, Pierre và các bạn của họ hẳn đã thấy đủ tồi tệ rồi.
“Đáng lý cô cũng không nên để mấy đứa lại một mình sớm như vậy,” Simone nói. “Chỉ vì cô quá háo hức chuẩn bị cho buổi tiệc tối mai thôi. Cô muốn đi mua sắm cho sớm sủa mà.”
Tất cả các anh chàng người Pháp đồng loạt cất tiếng cam đoan với Simone rằng chị chẳng có lỗi gì hết, và rằng tất cả lỗi đều thuộc về họ cả. Trong khi đó, tôi nhìn quanh phòng một cách cẩn thận hơn. Tôi bước về phía lò sưởi, thận trọng không để mình chạm hay va vào bất cứ vật gì. Làm rối hiện trường vụ án trước khi cảnh sát đến là việc tôi không muốn làm chút nào. Nhưng thật không thể tin được là chẳng có thứ gì khác bị đụng đến.
“Mấy chiếc vòng tay này,” tôi đột ngột nói, cắt ngang lời mọi người và chỉ vào những món trang sức mà lúc chiều Bess đã hết sức ngưỡng mộ. Chúng đang nằm trên bàn cùng những đồ trang trí nho nhỏ khác. “Hình như chúng cũng có giá trị, phải không chị?”
“Ừ, chị cho là vậy,” Simone đáp. “Mấy thứ ấy là kim cương và ngọc thật nên ít nhiều gì cũng có giá. Nhưng với chị, chúng có giá trị tinh cảm gia đình là chính nên chị mới bày chúng ở đây.”
“Tại sao tên trộm không vớ lấy một vật như thế nhỉ?” Tôi thì thầm, tự nói với mình hơn là cho những người khác nghe. “Nhét vào túi hay đâu đó thì quá dễ...” Tôi liếc nhìn quanh và thấy còn nhiều món giá trị khác như tượng nhỏ, tranh sơn dầu, đồ thủy tinh, và nhiều thứ nữa. Tại sao tên trộm lại chỉ lấy mỗi quả trứng thôi?
“Một câu hỏi hay đấy,” René nghe được nhận xét của tôi. “Có lẽ tên trộm đã bị giật mình lúc bọn này quay lại.”
“Chính xác thì các bạn quay lại đây khi nào?” tôi hỏi. “Kể tôi nghe mọi việc đã xảy ra được không? Các bạn rời khỏi phòng này trong bao lâu, khi nào thì phát hiện ra vụ trộm, và những chuyện khác nữa?”
“Ồ, được chứ,” Pierre nói, dù trông có hơi ngạc nhiên trước yêu cầu của tôi. Tôi đoán đó là do cô Simone chưa cho cậu ta biết danh tiếng thám tử của tôỉ. “Các bạn tôi đến sau khi các bạn ra về khoảng mười lăm phút, như cô Simone nói rồi đấy. Chúng tôi đi một vòng xem xung quanh ngôi nhà, rồi cô Simone gần như là chạy đi mua sắm ngay lập tức. Các bạn tôi đem hành lý lên nhà, rồi cả bọn ra ngoài đi loanh quanh, khoảng một tiếng hoặc hơn một chút. Khi Jacques và René cùng quay về đây thì cô Simone vừa về tới và phát hiện quà trứng bị mất. Thèo và tôi thì vẫn ở bên ngoài ngắm sông, nghe René gọi là cũng chạy vội về ngay, và rồi nghe kể chuyện đã xảy ra.”
“Đúng vậy,” Simone nói. “Ngay tức thì chị phát hiện ra quả trứng đã mất, vì ánh nắng rọi ngay qua cửa sổ và phản chiếu cánh cửa khung kính mở toang.”
“Em hiểu rồi,” tôi nghĩ về chi tiết này trong chốc lát. “Và trước đó nó có khóa không ạ?”
“Có,” Simone nói. “Cái khung được gắn dính vào tường. Nhưng tìm chìa khóa cũng chẳng khó khăn gi, chị nhét nó ngay dưới cái đồng hồ kia thôi.” Chị chỉ một cái đồng hồ đặt trên bệ lò sưởi.
Tôi bước gần về phía đó để quan sát cái đồng hồ kỹ hơn thì chợt thấy lối đi dẫn vào một căn phòng khác cửa đang để ngỏ. Trong phòng có một cái bàn bị lật ngược lại.
“Đó cũng do tên trộm làm phải không?” tôi chỉ tay hỏi.
Pierre gật đầu. “Chắc vậy,” cậu nói. “Thấy không, cái bàn nằm gần cửa sau. Tôi nghĩ hắn nghe tiếng bọn tôi quay lại và trong lúc vội vàng tẩu thoát đã va phải cái bàn đó.”
“Ừ, và nếu không phải René cứ luôn mồm như vậy thì hẳn là bọn tôi đã nghe thấy tiếng động rồi,” Thèo nháy mắt đùa, nói thêm.
Jacques hơi cau mày. “Không phải lúc đùa đâu, Thèo,” cậu này ôn tồn nói. “Bạn chúng ta vừa bị mất một báu vật gia truyền đấy. Quả trứng đỏ đã ở cùng họ qua bao nhiêu thế hệ rồi, biết không?”
“Có, có biết.” Thèo buồn rầu nói. “Tôi xin lỗi, Simone và Pierre.”
“Không cần phải xin lỗi đâu, Thèo,” Simone nói. “Chỉ là món đồ bị mất thôi mà. Ít nhất lúc xảy ra trộm không có ai ở đây, không thì đã có thể bị thương rồi. Như vậy sẽ tệ lắm, tệ hơn mất đồ rất nhiều.”
Chị thở dài, trông buồn rầu và vô vọng. “Đừng lo chị ạ,” tôi nhẹ nhàng nói, bước lại gần chị hơn khi đám thanh niên bắt đầu nói chuyện riêng với nhau. “Em sẽ giúp chị tìm lại quả trứng bằng tất cả những gì em có thể làm.”
“Có thể tìm được sao?” trông Simone rất ngạc nhiên, “Ồ, Nancy, chị biết em có nói em là thám tử, nhưng vụ này... Làm sao hy vọng được chứ em? Cả cảnh sát chị cũng không chắc họ có giúp gì được hay không nữa là... Có rất nhiều nơi để nhanh chóng tẩu tán một vật như thế...” chị lại thở dài.
Tôi biết Simone có lý. Nếu một tên trộm chuyên nghiệp đã chôm quả trứng Faberge, chắc chắn bây giờ nó đang trên đường đến một nơi kiểu như điểm bán đấu giá chợ đen rồi. Nhưng giác quan thứ sáu nho nhỏ của tôi đang hoạt động, và khiến tôi nghĩ rằng mình cần phải điều tra thêm một chút để tìm đáp án cho một số câu hỏi. Vì một lẽ, làm thế nào mà một tên trộm chuyên nghiệp lại biết về quả trứng gia truyền của Simone? Và với một kẻ chuyên nghiệp như vậy, sao hắn lại bỏ qua những thứ khác cũng rất dễ bán được như mấy món trang sức kia chứ? Thật vô lý. Và một khi có điều gì vô lý, tôi biết điều vô lý đó thường có nghĩa là câu chuyện còn nhiều vấn đề hơn những gì ta quan sát được.
“Chị đừng lo,” tôi trả lời. “Theo em thì vẫn còn cơ hội tìm lại quả trứng.”
Tôi để ý thấy Jacques đã quay khỏi các bạn mình và đang lắng nghe tôi nói với Simone. Trông cậu ta cũng rất ngạc nhiên, nhưng không nói gì cả, rồi lại nhanh chóng quay đi chỗ khác.
Simone mỉm cười với tôi, dù trông chị vẫn chẳng có thêm bao nhiêu hy vọng. “Sao cảnh sát lâu đến thế không biết?” chị liếc nhìn đồng hồ. “Chị gọi cho họ cách đây gần cả tiếng rồi còn gì...”
“Em xin lỗi! Ned à, em rất rất xin lỗi!” tôi thốt lên như người hết hơi khi hộc tốc chạy vào tiền sảnh rạp chiếu phim của River Heights. Chẳng khó khăn gì để tìm bạn trai tôi, Ned Nickerson, bởi anh là người duy nhất ở trong tiền sảnh, ngoài người soát vé và một cô gái độ tuổi thiếu niên đang làm ở quầy bán bắp. Cũng chẳng phải ngạc nhiên bởi vì bộ phim chúng tôi định xem đã chiếu được mười phút rỏi.
Ned mỉm cười, để lộ lúm đồng tiền thật đáng yêu, khi anh rời khỏi một trong những chiếc ghế nệm dài ở tiền sảnh để đứng dậy đón tôi.
“Không sao,” anh vừa nói vừa lùa tay vào mái tóc nâu của mình. Đôi mắt cũng màu nâu của anh hấp háy tinh nghịch. “Anh nghĩ dù bất cứ thứ gì giữ được chân em thì chắc hẳn đều thú vị hơn bộ phim... nếu không, tên em đã chẳng phải là Nancy Drew.”
Tôi cười to. “Ôi, anh nói đủng rồi đó,” tôi nói. “Em sẽ kể hết cho anh nghe. Vì tụi mình đã lỡ mất phần đầu của bộ phim, nên em sẽ đãi anh bữa tối để bù lại, được không?”
“Quá được!” Ned nói ngay, dù đã xơi hết một hộp bắp rang - bằng chứng là cái hộp đựng bắp rỗng không đang nằm ở chiếc ghế bên cạnh. Đỏ là một trong những điểm đặc biệt của Ned: ngoài sự kiên nhẫn và hiểu biết ra, anh lúc nào cũng sẵn sàng với chuyện ăn uống. Anh và George rất giống nhau về khoản này. Cũng như George, niềm đam mê ăn uống hình như chưa bao giờ ảnh hưởng đến tạng người cao gầy lêu nghêu của anh, dù bà Hannah vẫn thường nói là phần ăn của anh đủ nuôi cả một đội quân nhỏ chứ chẳng phải đùa.
Chúng tôi ra khỏi rạp và nhắm đến một trong những nơi mà cả hai đều yêu thích: một tiệm sách kết hợp với cà phê có tên là Đọc và Ăn của Susie. Đó là một nơi có mặt tiền hẹp nằm trên đường River, lọt thỏm giữa một cửa hàng quần áo và ngân hàng First Bank của vùng River Heights. Chỗ này khá chật chội nhưng tuyệt vời, mỗi khoảng bề mặt của các bức tường đều được phủ kín bằng những cái kệ cao chất ngất với đủ loại sách, và mỗi tấc vuông giữa những kệ sách ấy là những bàn ghế gỗ có màu sơn sáng không đồng bộ với nhau. Chủ nhân của nó, một chị gái trẻ trung, nhỏ nhắn, tràn trề năng lượng, tên là Susie Lin, luôn giữ cho cả sách lẫn thức ăn được phong phú và thú vị. Điều đó làm cho tiệm trở thành một nơi phổ biến thu hút mọi lứa tuổi cư dân địa phương.
May mà Ned và tôi đến khá sớm nên tiệm vẫn chưa đông lắm, và cả hai nhanh chóng tìm được một bàn trống ở góc xếp sách Phi Hư cấu. Tôi thấy Ned lướt qua các tiêu đề trên kệ. Anh thích đọc bất cứ thứ gì có thể cầm trong tay, và lúc nào cũng luôn tìm kiếm thêm sách mới nữa.
Nhưng thay vì lấy một quyến, anh chuyển sự chú ý sang tôi. “Kể xem nào,” Ned nói thật đơn giản. “Anh có thể kết luận là em đang tìm manh mối của một vụ đặc biệt thú vị. Và anh rút được kết luận ấy chẳng phải vì em đến trễ thôi đâu.”
“Thật à? Ý anh là sao?” tôi ngạc nhiên hỏi.
Thay vì trả lời, anh lại chỉ vào tôi. Tôi liếc nhìn xuống và muộn màng nhận ra rằng mình vẫn mặc cùng một bộ đồ cả ngày hôm nay. Trong lúc vội vã từ chỗ Simone chạy đến rạp chiếu phim, tôi thậm chí còn không kịp về nhà thay quần áo nữa.
Nhưng khác với Bess, Ned không phải là người để ý nhiều đến áo quần, nên tôi nghĩ đó chưa chắc là điều anh đang muốn nói.
Tôi đưa tay vuốt tóc, tự hỏi chẳng lẽ chuyện tôi đã không chải tóc thêm lần nào nữa suốt từ sáng đến giờ lại lộ rõ vậy sao, thì ngón tay bỗng chạm phải một vật gì cứng và có gai.
“Ui!” tôi la lên, giậỉ mạnh vật đó ra. Hóa ra là một cành cây ngắn có gai - có lẽ là một đoạn cành hồng dại đã vướng vào tóc trong lúc tôi săm soi khu vườn um tùm, bên hàng rào hoa hồng sau nhà Simone, lúc chiều. Tôi chỉ hơi ngạc nhiên là Bess đã không phát hiện và gỡ nó ra cho tôi, chứ tôi không biết gì thì cũng chẳng cần phải bàn. Tôi đã có nhiều thứ thú vị ở trong đầu suốt cả buổi chiều hơn là chuyện tóc tai của mình.
Ned cười toe. “Hoặc là Bess đã thuyết phục em diện một kiểu thời trang mới kỳ quái, hoặc là em đã bị xao nhãng bởi một vụ bí ẩn thú vị nào đó, đến nỗi chẳng thèm ngó vào gương lấy một lần.”
“Giả thuyết thứ hai chính xác rồi đấy,” tôi thừa nhận, vuốt nhanh trên tóc xem còn gì đi lạc trên đó không. “Gọi gì ăn đi, rồi em sẽ kể anh nghe hết.”
Ned gật đầu. Susie Lin bước vội về phía chúng tôi với tờ giấy ghi chú trong tay. Chị không chỉ là bếp trưởng mà còn là nữ phục vụ chính ở đây.
Tôi liếc về phía tấm bảng được dựng bên máy đếm tiền, là nơi Susie luôn ghi các món đặc biệt trong ngày. Ngay lập tức, một trong những món đầu tiên đập vào mắt tôi là: bánh bí rán.
“Ồ! tôi nói, chợt nhớ ra một vụ bí ẩn khác đang cần phải điều tra. Trong lúc phấn khích vì vụ trộm ở nhà Simone, tôi hầu như đã quên khuấy luôn vụ phá hoại rau củ. Nhưng giờ tôi lại tự hỏi không biết hai vụ này có liên hệ nào không. Chẳng phải tôi đã để ý đến sự trùng hợp lạ lùng, rằng kẻ đập phá bí và cô cháu Simone đã xuất hiện trong thị trấn cùng một ngày đó sao?
“Chào, Nancy, Ned.” Susie chào chúng tôi bằng giọng nhanh gọn như thường lệ. “Tối nay chị có thể phục vụ hai đứa món gì đây?”
Susie thuộc kiểu người dường như chẳng bao giờ ngừng chuyển động. Đôi lúc chị làm tôi nhớ đến quả bóng trong trò pinball, vì chị cứ di chuyển từ đầu này đến đầu kia trong cái nhà hàng dài và hẹp của mình, hết ghi các món được gọi, đem đồ ăn đến, lại trèo thang để lấy sách trên những ngăn kệ cao.
“Món tôm nghe có vẻ ngon nhỉ, Nancy?” Ned nhận xét khi liếc qua cái bảng ghi các món đặc biệt.
“Nghe ngon đấy,” tôi tán thành. “Nhưng em nghĩ nên ăn thử món bánh bí rán trước đã.”
Mắt Susie mở to, và vung tay mạnh đến nỗi làm bay vèo cây bút đang cầm trong tay. “Bí?” chị kêu to. “Làm ơn đi, đừng bao giờ nhắc đến bí trước mặt chị nữa!”
Chương 5: Manh ...
Chương 7: Thu ...
Chương 8: Cái ...
chương 11: Tai ...
Chương 12
Chương 13
Chương 14
TRUYỆN TRINH THÁM

Nữ Thám Tử Nancy Drew - Không Dấu Vết- Chương 3: Cuộc Gọi Cầu Cứu

Chương 3: Cuộc Gọi Cầu Cứu




Nữ Thám Tử Nancy Drew - Không Dấu Vết
Tác giả: Carolyn Keene
Thể loại: Trinh Thám
Biên tập: Nguyen Thanh Binh
Upload bìa: Nguyen Thanh Binh
Số chương: 13
Phí download: 3 gạo
Nhóm đọc/download: 0 / 1
Số lần đọc/download: 861 / 8
Cập nhật: 2016-06-27 09:56:58 +0700
Link download: epubePub   KindleMobi/PRC   PDF A4A4   PDF A5A5   PDF A6A6   - xem thông tin ebook





Chương 3: Cuộc Gọi Cầu Cứu
T
ôi giật mình há hốc miệng trước cảnh tượng không hề mong đợi ấy, hình ảnh những dây bí bị dập nát nhảy múa trong đầu. “Chú đang làm gì với cái đó thế?”
Chú Harold Safer chớp mắt, có phần bối rối trước phản ứng của tôi. “Chú đang làm gì với cái gì cơ?” chú hỏi, liếc nhìn cái vồ và thở dài. “À, cháu bảo cái này ấy hà? Chú đang cố treo một cái thanh màn cửa trong bếp, nhưng hôm nay cứ lóng nga lóng ngóng, làm mãi chẳng được.”
“Chú định treo màn bằng thứ đó á?” Bess hỏi. “Chẳng trách mà lại vất vả thế. Có lẽ cháu giúp được đấy, chú có thùng dụng cụ không?”
Chú Safer có vẻ ngạc nhiên, nhưng vẫn ra hiệu mời bọn tôi vào. “Có, ở dưới hầm,” chú nói với Bess.
Con bé gật đầu, “Cháu quay lại ngay,” vừa dứt lời nó đã biến mất xuống hành lang.
“Cô bé có biết mình đang làm gì không vậy?” chú Safer hỏi George và tôi, vẫn còn vẻ ngạc nhiên.
“Biết chắc luôn ấy chứ ạ,” George cam đoan. “Bess là thiên tài về các loại dụng cụ đấy - mà dụng cụ thì không chỉ là mấy cái cọ trang điểm thôi đâu.”
Tôi gật đầu. Hầu hết mọi người đều ngạc nhiên khi phát hiện ra Bess là người tháo vát thế nào. Trông bạn tôi có vẻ ngoài giống cái kiểu con gái mà việc thay một cái bóng đèn thôi cũng là cả một khó khăn to lớn, nhưng kỳ thực, Bess có một khả năng bẩm sinh lạ lùng trong chuyện sửa chữa đồ đạc, từ cái lò nướng bánh bị kẹt cho đến cái ô tô bị chết máy. Nó làm được tất. Một thanh treo màn đối với nó chỉ là cái bánh con con, có đáng là gì.
“Chú đừng lo, chú ạ,” tôi thêm vào. “Bạn ấy sẽ làm xong ngay thôi mà.”
“Được thế thì may quá có cô bé ở đây,” chú Safer nói, rồi dẫn chúng tôi xuống bếp ở sau nhà. “Không treo được cái màn đó thì chú đến phát điên mất. Chú cứ tưởng đâu chỉ mất một phút thôi; còn phải quay lại làm việc nữa chứ. Đã thế lại còn cái tên hàng xóm gàn dở cứ trừng trừng liếc sang đây mỗi lần chú vô bếp. Tin nổi không, chỉ vì có kẻ nào đó phá tanh bành khu vườn của hắn thế là hắn nghĩ ngay chú là thủ phạm. Phải chi các cháu thấy cảnh tối qua - hắn ra ngoài nhổ cỏ, và nhìn chú bẩn thỉu đến nỗi chú muốn đi tắm ngay lập tức!”
Chúng tôi vào bếp. Căn bếp rộng rãi và sạch sẽ, những bức tường trắng được trang trí bằng áp phích của các buổi diễn tại nhà hát Broadway lồng trong khung. Những cửa sổ lớn nhìn ra sân sau và sân bên hông nhà. Một thanh treo màn bằng đồng sáng bóng, một bộ màn bằng vải lanh, nhiều cây đinh cong queo, và một đống bụi nhỏ đang nằm trên sàn nhà - dưới cửa sổ bên hông.
“Vâng, bọn cháu cũng nghe về chuyện mấy dây bí rồi,” tôi nói. “Thật ra, chính vì thế mà bọn cháu đến đây, để tìm kẻ nào đã thật sự gây ra chuyện đó.”
“Thế hả? Tốt lắm,” chú Safer vừa nói vừa ngồi phịch xuống một cái ghế đẩu cao bên quầy bếp. “Vì tới giờ phút này chú sợ phải đi ra ngoài lắm rồi!”
Tôi biết câu nói ấy có hơi quá, nhưng nó nhắc tôi cần phải xem xét vụ bí ẩn này một cách nghiêm túc, ngay cả khi tụi bạn tôi không thèm quan tâm đi chăng nữa. Một mối giao hảo xóm giềng đang bị đe dọa. Nếu giờ vì ông Geffington mà chú Safer phải treo một tấm màn làm che khuất một phần tầm ngắm cảnh quý báu của mình thì mọi việc hẳn đã tồi tệ lắm rồi.
Ngay lúc đó Bess bước vào, tay cầm một cái búa nhỏ và vài dụng cụ khác. “Chúng ta bắt đầu thôi,” nó vui vẻ nói. “Thứ này được việc hơn cái vồ hồi nãy nhiều đấy ạ. Nào, George, phụ em một tay.”
Khi hai chị em họ bắt tay vào làm việc, tôi ngồi cạnh chú Safer bên quầy. “Chú có thể trả lời giúp cháu vài câu được không ạ?” tôi lên tiếng.
“Cứ hỏi đi, Nancy,” chú nhún vai. “Chú chẳng có gì phải giấu cháu hay bất kỳ ai cả, dù cái tên láng giềng thiếu suy nghĩ bị bí ngòi ám kia có nói thế nào đi chăng nữa. Lời buộc tội của hắn quả thật buồn cười. Cháu có thể tưởng tượng ra cảnh chú lẻn vào vườn nhà hắn trong đêm tối, tay cầm một cái dùi cui thô thiển và đập phá đám rau củ quý báu của hắn không? Dẫu vậy cảnh tượng đó cũng khiến chú nhớ đến câu đùa tếu xưa kia: Bạn sẽ được gì khi một con voi bước qua vườn nhà bạn?”
“Được gì ạ?” tôi hỏi.
“Nát bét[4]!” chú Safer cười.
“Đúng là thế thật,” tôi lịch sự cười theo. Có thể nhận thấy, như thường lệ, thật khó mà ngắt lời một khi chú Safer đã bắt đầu nói. “Chú có thấy hay nghe được điều gì bất thường hồi tối thứ Ba không ạ?”
“Chẳng gì cả,” chú nhún vai. “Chú nhớ tối hôm đó ngắm hoàng hôn xong là chú vào nhà ngay và nghe vở Fiddler on the Roof[5]. Đó là một trong những vở chú thích nhất nên đã mở âm thanh khá to. Thật ra, chú gần như không nghe thấy cả tiếng chuông cửa khi cô Zucker và nhóc Owen ghé qua sau bữa ăn tối để vận động tiền cho Ngày Hội Đe Búa nữa cơ mà. Cho nên, dĩ nhiên là chú chẳng nghe thấy gì đang xảy ra ở nhà kế bên, trừ phi có đại bác nổ thì còn may ra.”
“Cháu hiểu rồi,” tôi nói. “Thế chú có thấy hiện trường sáng hôm sau không? Ý cháu là mấy dây bí nát bét đó.”
“Không,” chú đáp. “Cháu cũng biết đấy, đến mười giờ sáng chú mới mở cửa tiệm, và hầu như chẳng có sáng nào chú dậy trước chín giờ cả. Lúc chú nhìn ra cửa sổ thì chắc là Bradley đã dọn dẹp mớ lộn xộn kia rồi. Ít nhất thì chú chẳng để ý thấy gì cả - thậm chí cho tới khi hắn xông vào tiệm và nguyền rủa chú.”
“Bác ấy đến tiệm phô mai và kết tội chú á?” tôi hỏi.
“Đúng, cháu có tưởng tượng được cảnh bực bội ấy không?” chú Safer có vẻ bị xúc phạm. “May sao lúc đó trong tiệm không có khách. Cho đến khi hiểu ra hắn đang la ó gì, chú đã nói là chú không làm chuyện đó, hắn lầm bầm nghe như có chữ kiện cáo rồi lao đi. Không thể tưởng tượng nổi sao hắn lại có thể nghĩ rằng chú đi làm cái chuyện như vậy chứ!”
“Có lẽ bác Geffington nghĩ chú bực mình vì mấy cái lồng cà chua của bác ấy đã choán mất tầm ngắm cảnh của chú,” tôi nói.
“Hả?” trông chú Safer kinh ngạc thật sự. “Cháu đùa hả, Nancy? Đó là chuyện từ tháng trước rồi còn gì! Chú đã biết ngay hắn sẽ chẳng đời nào chịu dời mấy lồng cà chua đó đi - nhưng sao chúng lại phải cao thế chứ? Cứ như thể hắn định dùng cà chua để hồi sinh Little Shop of Horrors[6] hay gì đó không bằng - thế nên chú chỉ đơn giản là dời cái ghế dài của mình sang phải một chút, và Voila! Cảnh hoàng hôn nguyên vẹn đã quay lại.”
Tôi chớp mắt, cố gỡ những lời bình phẩm lộn xộn của chú Safer ra cho thẳng thớm, rõ ràng. “Cháu hiểu rồi,” tôi nói, khi rốt cuộc đã nắm được những ý chú vừa nói. “Giờ cháu cũng chẳng nghĩ được gì hơn. Có lẽ cháu nên tiếp tục dò hỏi quanh đây thử xem có ai thấy chuyện gì xảy ra vào tối hôm đó không.”
Chú Harold Safer gật đầu. “Cháu đã hỏi mấy người ở nhà bên kia chưa? Chú nghe nói có một cô trẻ trẻ mới dọn đến hồi đầu tuần. Chú chưa gặp cô ấy nhưng đang rất mong được gặp đây, nghe đâu là con gái của một người châu Âu giàu sang có máy bay riêng cơ đấy. Không chừng lại thuộc một hoàng gia nho nhỏ nào đó cũng nên. Cháu tưởng tượng được không, ngay tại thị trấn River Heights nhỏ bé cổ xưa này!”
“Bọn cháu mới gặp chị ấy xong,” tôi nói. “Chị ấy tên Simone, rất dễ thương, nhưng chẳng thấy kể gì về hoàng gia hay có liên quan gì cả. Chị Simone cũng chẳng thấy gì ở bên vườn nhà bác Geffington vào đêm hôm đó.”
“Tệ thật,” chú Harold Safer đảo mắt. “Chú vẫn nói với cái tên Geffington không thể chịu nổi kia là chỉ có mấy con gấu trúc mới thèm phá bí của hắn thôi. Và dĩ nhiên, hắn một mực không chịu tin, nói rằng trừ phi mấy con gấu trúc đã học cách sử dụng búa tạ.”
Tôi mỉm cười vẻ thông cảm, liếc về phía Bess và George đang trượt thanh treo màn vào mấy cái khớp mới mắc xong. Ngay lúc đó chú Safer cũng nhìn qua và thấy những gì hai đứa nó đang làm.
“Ồ, tuyệt vời!” ông kêu to, vỗ tay và nhảy cẫng lên. “Các cháu đúng là thiên tài! Chú không biết làm sao mà cảm ơn cho hết được đây. Các cháu đã cứu chú khỏi sự lú lẫn rồi đó.”
“Không có gì đâu, chú Safer ạ,” Bess đáp. “Chắc bọn cháu phải đi thôi.”
“Làm sao thế được! Ít nhất cũng phải để chú cảm ơn các cháu bằng một ít xô-đa ngon lành mát lạnh đã chứ.” Rồi chú bước vội về phía tủ lạnh. “Này, chú không chấp nhận lời từ chối nào đâu nhé! Hơn nữa, chú phải kể ai đó nghe về vở A Chorus Line[7] mà chú vừa được xem dưới phố River cuối tuần trước...”
Tôi liếc nhìn Bess và George. Rõ ràng lần này không thể chuồn sớm được rồi. Nhưng thật ra cũng chẳng sao. Ngồi yên lặng nghe chú Harold Safer huyên thuyên kể về buổi đi xem kịch gần đây sẽ cho tôi cơ hội suy nghĩ về vụ án này.
Tôi bắt đầu nghĩ vụ này thật sự khó nhằn rồi đấy. Bề ngoài có vẻ như chẳng hề quan trọng, nhưng không có nghĩa là dễ giải quyết chút nào. Cho tới giờ tôi chưa có nhân chứng, không chút manh mối, chưa tìm ra động cơ phạm tội, cũng chẳng có một hướng điều tra nào cho ra hồn. Nhất là hiện trường đã được dọn sạch từ lâu, không sót lại bất kỳ chứng cứ nào, nếu có. Làm cách nào tôi tìm hiểu được chuyện gì đã xảy ra khi mà tuyệt nhiên chẳng có gì để bắt đầu chứ?
Manh mối ắt hẳn phải nằm đâu đó, tôi tự nhủ trong khi chú Safer đem xô-đa ra cho cả bọn và tiếp tục huyên thuyên một cách hết sức vui vẻ. Luôn luôn phải có manh mối chứ. Chỉ còn chờ mình tìm thấy thôi.
Nghĩ vậy làm tôi cảm thấy đỡ hơn một chút. Tôi hớp một ngụm xô-đa, điểm lại những gì đã làm. Chẳng có gì nhiều, nhưng ít nhất thì cũng là một bước khởi đầu.
Chú Safer đã nói thì chẳng biết làm sao ngưng chú lại được. Chú hết miêu tả chi tiết đến đáng ngạc nhiên về vở kịch đã xem, lại nhất định cho bọn tôi xem bức ảnh cảnh hoàng hôn trên sông chú chụp gần đây nhất. Sau đó chú muốn cả bọn lắng nghe một đoạn ghi âm mới tải được từ internet. George khá hào hứng với vụ này, cái vụ tải từ internet ấy. Nó thích nói chuyện về máy tính với những ai có cùng niềm đam mê đó, nhất là khi cả Bess lẫn tôi đều chẳng mặn mà gì với máy tính ngoài chuyện kiểm tra email hay thỉnh thoảng truy cập thông tin.
Cuối cùng bọn tôi cũng được thả cho về. Chú Safer đưa cả bọn ra cửa. “Rất cảm ơn các cháu đã ghé qua đây, các cháu gái ạ,” chú vui vẻ nói. “Chú thật sự cảm kích việc mấy cháu đã treo giúp cái màn cửa sổ. Đó là chưa kể còn quan tâm đến toàn bộ chuyện bầu bí lộn xộn này giúp chú nữa. Nếu có ai đó chịu đi đến cùng sự việc thì đó chính là siêu thám tử vùng River Heights của chúng ta, Nancy Drew.” Chú nháy mắt với tôi. “Một ngày nào đấy chắc chắn chú sẽ viết một vở nhạc kịch về cháu, cháu gái thân mến ạ!”
Tôi mỉm cười. Chú Safer lúc nào cũng nói vậy kể từ lần đầu tiên tôi xuất hiện trên báo nhờ phá được một vụ án khó. “Cảm ơn chú đã giúp cháu, chú Safer,” tôi nói. “Cháu sẽ liên lạc lại sau.”
Chẳng mấy chốc tôi đã cùng Bess, George vội vã bước trên lề đường về phía nhà mình. “Ước gì hôm nay có thêm thời gian để nói chuyện với vài người nữa,” tôi bình luận, liếc nhìn đồng hồ. “Càng nói chuyện với chú Safer lại càng thấy là phải làm rõ vụ này sớm chừng nào hay chừng đó.”
“Ừ, tao hiểu ý mày,” George nói. “Chú Safer hình như khá bực bội về chuyện này đấy.”
Bess gật đầu. “Trước đây chú ấy và ông Geffington từng có bất đồng rồi, nhưng chưa lần nào như thế cả. Bọn mình cần làm điều gì đó trước khi mọi việc đi xa hơn.”
“Một tiếng nữa tao phải gặp Ned để đi xem phim,” tôi nói khi đã tới trước nhà mình. Cả đám dừng lại trước cái xe của Bess đang đậu ngay lề đường. “Nhưng tụi mình vẫn có thể tiếp tục vụ này vào lúc nào đó cuối tuần, nếu hai người không bận.”
“Chắc rồi,” Bess nhận lời thay cho cả hai. “À này, nếu sắp sửa đi chơi với Ned thì bà nên mặc cái áo kiểu màu hoa oải hương mà bà không bao giờ mặc ấy. Cái áo đỏ tôn màu mắt bà lắm. Và đừng có quên đánh son! Đã nói rồi mà, chỉ đánh tí son thôi là khác hẳn cho xem.”
Bess lúc nào cũng cố thuyết phục George và tôi chú ý nhiều hơn đến áo quần và trang điểm - hai đề tài đặc biệt thu hút nó rất nhiều, còn với hai đứa tôi thì chẳng được bao nhiêu. Tôi cũng thích thỉnh thoảng đi mua sắm một bữa xả giàn như mọi cô gái khác, và cũng thích mặc những bộ đẹp đẹp vào những dịp đặc biệt chứ, chỉ tại tôi hầu như chẳng có lúc nào để quan tâm đến những chuyện đó cả. Còn George vốn đã là một con bé tinh nghịch ngay từ lúc mới sinh; nếu đến giờ này mà Bess còn chưa biến chị họ nó thành một kẻ nghiện thời trang thì tôi nghĩ nó sẽ chẳng bao giờ làm được đâu.
“Ừ, biết rồi, tôi sẽ cố làm sao cho giống con người nhất,” tôi nói với Bess, nháy mắt với George. “Hẹn gặp ngày mai nhé.”
Cả bọn tạm biệt nhau, và tôi bước vội vào nhà. Không thấy bố đâu cả, nhưng quản gia của chúng tôi, bà Hannah Gruen, đang ở trong bếp chuẩn bị bữa tối. Bà Hannah đã ở với bố con tôi kể từ khi mẹ tôi mất; với tôi, bà đã là một phần của gia đình này. Bà rất nhanh nhẹn và giỏi giang, và bên dưới vẻ ngoài nghiêm trang là một trái tim bao la như cái vòng một rất đáng kể của bà vậy.
“Ồ, con đây rồi, Nancy,” bà Hannah vừa nói vừa lau tay vào tạp dề. “Con vừa lỡ một cú điện thoại đấy. Một phụ nữ trẻ, nghe giọng chừng như đang thất vọng lắm, số điện thoại của cô ấy ghi trên giấy kia kìa.”
“Cảm ơn bà ạ.” Tôi bước vội đến nhìn vào tờ giấy kế bên điện thoại. Tên và số điện thoại của Simone được viết trên đó bằng nét chữ gọn gàng của bà Hannah. “À, là chủ mới của căn hộ cũ nhà Peterson đấy bà. Bọn cháu mới gặp chị ấy hồi chiều. Có chuyện gì đây không biết?”
Chỉ có một cách để biết thôi, tôi bấm số điện thoại. Simone trả lời, giọng chị nghe thất vọng đến nỗi tôi gần như không nhận ra. “Nancy!” chị la lên khi nhận ra giọng tôi. “Thật mừng được nghe giọng em. Em cũng biết đấy, Pierre và chị gần như chưa gặp ai ở River Heights này, và chị không biết phải gọi đến đâu nữa cả.”
“Có chuyện gì vậy, chị Simone?” tôi nôn nóng hỏi. Sự lo lắng hiện rõ trong giọng chị cho tôi biết là có chuyện gì đó không ổn - rất rất không ổn.
“Quả trứng Faberge,” Simone đáp. “Chị vào phòng khách và phát hiện nó biến mất rồi!”
Chú thích
[4] Chơi chữ, nguyên gốc “Squash” trong tiếng Anh vừa có nghĩa quả bí, vừa có nghĩa là bị đạp nát bét.
[5] Tạm dịch: “Người chơi vĩ cầm trên mái nhà”, tên một vở nhạc kịch của nhà hát Broadway.
[6] Tạm dịch: “Cửa tiệm nhỏ kinh hoàng”, tên một vở nhạc kịch của nhà hát Broadway.
[7] Tên một vở kịch của Broadway
Chương 5: Manh ...
Chương 7: Thu ...
Chương 8: Cái ...
chương 11: Tai ...
Chương 12
Chương 13
Chương 14
TRUYỆN TRINH THÁM

Nữ Thám Tử Nancy Drew - Không Dấu Vết Chương I I-Chương 2: Kế Hoạch Tiệc Tùng



 Chương I I-Chương 2: Kế Hoạch Tiệc Tùng


Nữ Thám Tử Nancy Drew - Không Dấu Vết
Tác giả: Carolyn Keene
Thể loại: Trinh Thám
Biên tập: Nguyen Thanh Binh
Upload bìa: Nguyen Thanh Binh
Số chương: 13
Phí download: 3 gạo
Nhóm đọc/download: 0 / 1
Số lần đọc/download: 861 / 8
Cập nhật: 2016-06-27 09:56:58 +0700
Link download: epubePub   KindleMobi/PRC   PDF A4A4   PDF A5A5   PDF A6A6   - xem thông tin ebook





Chương 2: Kế Hoạch Tiệc Tùng
“C
ái gì? Đâu?” giọng Simone ngạc nhiên thật sự, chị bước vội đến cạnh tôi - bên cửa sổ. Bess với George cũng tới, và cả bốn người cùng chăm chú nhìn ra khoảnh sân sau bị bỏ hoang. Tôi chỉ tay về phía rất nhiều dây leo trông thật tươi tốt đang bám quanh cái gì đấy giống như một bờ giậu hoa hồng um tùm. Từ những dây leo đó thòng xuống khoảng nửa tá quả xanh hình thuôn.
“Hê! Trông giống bí ngòi quá,” George nói.
“Có lẽ em nói đúng,” Simone nói. “Các em thấy đấy, bọn chị còn chưa ngó ngàng gì được sân vườn nữa là. Đi, ra xem thử nào.”
Chúng tôi theo Simone băng ngang qua bếp ra sân sau. Cũng như sân trước, sân sau dốc về phía bờ sông, cuối sân là một bức tường thấp bằng đá. Ở hai phần ba đoạn đường đến chỗ bức tường ấy là bờ giậu hoa hồng lừng lững, choán ít nhất một nửa bề rộng của mảnh sân.
Mấy chị em nhón gót nhìn qua bờ giậu và thấy cả một vườn rau củ mọc dại. Những cây cà chua mọc rải rác, những cây hành khẳng khiu sắp có củ, và mấy dây bí bò quanh tất cả những cây đó.
“Chắc vài hạt giống từ năm ngoái đã sống sót được qua mùa đông và tự mọc lên,” Bess nhận xét. “Có vẻ như chị sắp có món bí rán rồi đó, Simone!”
“Ừ, nhưng phải tìm được đường đi qua mấy cái gai kia đã!” Simone nói. “Chắc phải nhờ Pierre dọn một lối để đi qua đó mới được.”
“Pierre?” tôi tò mò nhắc lại.
“Bạn gọi tôi à?” một giọng nam vui vẻ đáp lời ngay sau lưng tôi.
Tôi giật nảy mình. Quay người lại, trước mặt tôi là một thanh niên đẹp trai, có lẽ nhỏ hơn Simone khoảng mười tuổi. Anh chàng có nét giống Simone ở đôi mắt sậm màu và hai gò má cao.
“Cháu đây rồi, Pierre,” Simone nói. “Để cô giới thiệu cháu với mấy người bạn mới - Nancy, Bess và George. Còn đây là Pierre, cháu chị. Nó cũng từ Paris tới và sẽ ở lại đây cho tới khi lớp đại học của nó ở Chicago khai giảng.”
Pierre cúi chào. “Rất hân hạnh,” anh chàng nói nặng giọng Pháp, mắt vẫn nhìn Bess chăm chăm. “Tôi thật vinh hạnh mới được gặp những quý cô đáng yêu như thế này.”
George và tôi trao đổi cái liếc rất nhanh cùng một nụ cười đầy hiểu biết. Chúng tôi còn lạ gì việc thấy bọn con trai hóa thành lẩm cẩm ngay khi gặp Bess nữa đâu.
“Hy vọng bạn đang tận hưởng những ngày vui vẻ ở River Heights,” Bess lịch sự mỉm cười đáp lại Pierre. “Đây không phải là thị trấn lớn nhất thế giới, nhưng cũng có nhiều thứ thú vị lắm.”
“Qui, chẳng hạn như một kẻ cướp bí ngòi,” Simone cười, thêm vào. Chị chỉ tay về phía cái cây gần đó. “Mình may mắn có vài dây courgette đang mọc dại trong vườn đấy Pierre. Chứ mọi cây bí khác trong thị trấn đều bị kẻ nào đó phá hết rồi.”
“Đúng vậy.” Tôi nhìn đồng hồ, nhận ra là đã sắp muộn rồi. Chẳng mấy tiếng nữa đã đến giờ tôi hẹn bạn trai mình - Ned Nickerson - đi xem phim, thế nên tôi sẽ phải chạy đi ngay nếu còn muốn điều tra thêm bất cứ điều gì trong hôm nay. “Em vừa nhớ ra là bọn em phải đi bây giờ. Chắc chị cũng có nhiều thứ phải làm đúng không ạ.”
Pierre hơi lúng túng, nhưng vẫn mỉm cười, “Ôi, các bạn phải đi sớm vậy sao?” Cậu chạm vào cánh tay Bess. “Khoan đã, xin các mesdemoiselles hãy vui lòng đồng ý là sẽ sớm quay lại đây nhé? Thật ra, tôi có mấy người bạn thân từ Pháp đang trên đường tới, và tôi biết họ sẽ rất vui nếu được gặp các bạn. Có lẽ ta nên tổ chức một buổi tiệc sau khi họ đến chăng?”
“Một buổi tiệc hả?” George nói, bứt một cọng bí. “Nghe vui đó. Khi nào bạn của cậu đến nơi?”
Simone liếc nhìn đồng hồ. “Chắc là sắp rồi đấy,” chị đáp thay cho cháu mình. “Bọn nó vừa đi thăm mấy người Pháp khác ở dưới hạ lưu sông, bây giờ đang lái xe lên đây. Tất cả chúng ta có thể tụ họp với nhau vào cuối tuần này - à, tối mai được không?”
Tôi gật đầu. “Nghe hay quá,” tôi nói. “Cảm ơn chị!” Tôi thích ý tưởng sẽ được dịp tìm hiểu rõ hơn về những người láng giềng mới của mình. Thậm chí nếu Simone không biết tí gì về vụ phá hoại bí thì chị cũng là một người thú vị và dễ thương. Tôi rất háo hức muốn nghe kể thêm về những đồ vật nước ngoài có trong nhà chị, chưa kể tới việc sẽ được nghe chi tiết hơn, hấp dẫn hơn về lịch sử gia đình Valinkofsky nữa.
“Tuyệt!” Pierre vỗ tay. “Vậy thỏa thuận rồi nhé. Bảy giờ tối mai, được chứ?”
“Chắc rồi,” tôi nói, Bess và George gật đầu. “Nhưng bây giờ bọn này thật sự phải đi thôi. Tôi có hẹn với bạn trai trong mấy phút nữa.”
“Ồ, được rồi,” Simone nói. “Dẫn cậu ấy đến cùng luôn nhé. Cả Bess và George cũng thế nhé.” Chị cười với ba đứa chúng tôi.
“Đúng rồi,” Pierre nói thêm. “Chắc là những quý cô đáng yêu thế này hẳn đều đã có bạn trai, phải không nào?”
Lúm đồng tiền của Bess như càng sâu thêm. “Không hẳn,” nó nói. “Chỉ có Nancy là đứa duy nhất trong bọn hiện đang có bạn trai thôi.”
“Ồ, buồn vậy sao?” Pierre nói, dù nghe chẳng có vẻ gì là buồn cả. “Vậy thì, các bạn tôi và tôi sẽ cố làm đẹp lòng các quý cô.”
“Chắc phải vậy rồi,” Bess nháy hàng lông mi dài tinh nghịch, còn Pierre thì cười hớn hở.
Cả bọn trở ra phố. Thay vì đi theo lối cũ, chúng tôi đi dọc bãi cỏ ngăn cách giữa nhà Simone với cái hàng rào cọc đánh dấu ranh giới với nhà ông Geffington. Tôi tò mò liếc qua hàng rào, tự hỏi không biết có thể thấy chứng cứ gì từ hiện trường vụ án không. Nhưng nếu có thì cũng bị dọn hết từ lâu rồi. Khu vườn của ông Geffington trông đã ngăn nắp đến mức không thể nào ngăn nắp hơn được nữa, như thường lệ.
Tôi nhìn khu vườn um tùm qua vai mình. Liệu ai đó đã núp trong đám cây cối lộn xộn kia, rồi lẻn ra đập phá bí của ông Geffington vào thời điểm thuận lợi chăng? Hay thủ phạm đã lén lút bước xuống mấy bậc thang xi măng dẫn từ lề đường xuống, rồi nhờ bóng tối che chắn mà chạy vòng qua căn nhà ra vườn? Hay chỉ đơn giản là chú Safer đã từ bên vườn của mình bước sang tiêu diệt đám cây quý báu của ông bạn láng giềng?
Khả năng cuối cùng vẫn có vẻ rất khó thuyết phục. Nhưng cả đời tìm tòi giải đáp những vụ bí ẩn đã dạy tôi không bao giờ được xem nhẹ bất cứ phán đoán nào, dù nghe vô lý đến thế nào đi chăng nữa. Đó là một trong những lý do khiến tôi thích công việc thám tử - chẳng có cách gì đoán được một vụ án sẽ hóa ra thế nào cho tới khi đã thu thập đủ mọi chứng cứ, theo dõi tất cả các dấu vết, tìm theo mọi manh mối.
Khi chúng tôi bước tới lề đường, Bess, George và tôi chào tạm biệt những người láng giềng mới. Simone và Pierre đi vào nhà, còn ba đứa tôi bước về phía nhà ông Geffington.
“Anh chàng Pierre có vẻ dễ thương chứ hà?” Bess liếc về phía nhà Simone, bình phẩm.
George khịt mũi. “Chắc rồi, nhưng chị hy vọng mày sẽ gởi cho anh chàng hóa đơn giặt khô quần áo, vì anh chàng đã chảy dãi khắp người mày như vậy.”
Bess đỏ mặt. “ôi, thôi đi,” nó nói. “Cậu ấy chỉ cố tỏ ra thân thiện thôi mà.”
“Vậy sao,” tôi trêu. “Và tôi chắc là bà chẳng thèm để ý thấy cậu ấy duyên dáng thế nào đâu nhỉ. Hay cái giọng Pháp quyến rũ ấy. Hay là cái cách cậu ấy nhìn bà suốt thời gian bọn mình ở đó.”
“Sao cũng được.” Bess chỉ tay về phía nhà ông Geffington khi cả bọn đi ngang qua. “Này, bà không muốn dừng lại xem xét hay làm gì sao? Ý tôi là, có lẽ bây giờ mọi thứ đã được dọn dẹp rồi, nhưng biết đâu vẫn có thể tìm được vài nhân chứng thì sao. Khoai tây còn có mắt, bắp còn có tai cơ mà.”
Tôi rên lên phản đối câu đùa nhạt hoét của Bess. Rõ ràng nó đang cố đổi đề tài nên thôi, tôi cũng chẳng trêu nó nữa. “Không, tôi nghĩ tốt hơn là đi nói chuyện với chú Safer cái đã,” tôi nói. “Chú ấy là đối tượng tình nghi chính - theo như bác G. nghĩ. Chắc chú Safer không làm chuyện đó đâu, nhưng có thể chú ấy đã nhìn hoặc nghe thấy điều gì chăng, và chú ấy sẽ cho tụi mình dấu vết tìm đến thủ phạm thực sự.”
George nhún vai. “Nghe có vẻ là một kế hoạch tốt đấy,” nó nói. “Chỉ cần đừng có đứa nào dại dột hỏi gần đây chú có xem vở kịch nào hay hay không, kẻo chẳng đời nào chuồn được đâu.”
Chúng tôi bước lên những bậc thang dẫn lối xuống sân nhà chú Safer. Không giống như ở hầu hết những ngôi nhà cùng dãy - thường xây bằng đá hoặc xi măng - cầu thang nhà chú Safer được tô điểm bằng những mảnh thủy tinh màu, tạo thành một dãy màu cầu vồng.
Tôi dẫn đầu bước đến cửa trước. Khi tôi nhấn chuông cửa, cả bọn đều nghe vọng ra giai điệu nhè nhẹ của bài Somewhere over the rainbow”[3].
Chẳng mấy chốc có tiếng bước chân về phía chúng tôi. Một giây sau cửa mở tung ra - và kia là chú Harold Safer, với một cái vồ lớn trong tay.
Chú thích
[3] Tạm dịch: “Nơi nào đó phía trên cầu vồng” bài hát trong phim “Phù thủy xứ Oz” được bình chọn là bài hát của thế kỷ 20.
Chương 5: Manh ...
Chương 7: Thu ...
Chương 8: Cái ...
chương 11: Tai ...
Chương 12
Chương 13
Chương 14
 TRUYỆN TRINH THÁM
 

nhathongnguyen.blogspot 9.8 su10 nhathongnguyen.blogspot 90286 student

Receive All Updates Via Twitter